Thơ, Ca dao, Tục ngữ và Thơ hay về Quảng Trị

Thảo luận trong 'VƯỜN VĂN HỌC, THƠ CA' bắt đầu bởi Phong Ca, 8/4/06.

  1. Phong Ca

    Phong Ca Thành Viên Danh Dự

    . Ca dao tục ngữ câu đố

    Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại:

    - Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất.

    - Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội.

    Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc : Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

    Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phưưong. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:

    -Nem chợ Sãi, vải La Vang

    -Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại

    -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ

    - Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông

    -Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...

    Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:

    -Chạy lóc xóc không bằng góc vườn

    -Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

    Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:

    - Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát

    - Đừng chóng bạc như vôi

    - Xách bầu phải xem quai

    - Địu con phải xem vải buộc

    - Làm cỏ phải xem cán nắm

    Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

    Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:

    -Về những bộ phận cơ thể của con người

    -Về những họat động của con người

    -Về các con vật

    -Về các loại cây trái

    -Về các sự vật hiện tượng khác.

    Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:

    Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên

    Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình.

    Hoặc con chó :

    Khen ai nho nhỏ

    Mắt tỏ như gương

    Tối trời như mực

    Biết người thương ra chào

    Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vội có câu:

    Hai cây cao đã nên cao

    Một người dưới rào xa đã nên xa

    Ba người họp lại một nhà

    Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

    Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:

    Da non mà bọc lấy xương

    Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương

    Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp

    Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa

    ( Cây đèn sáp)

    Một mẹ sinh đặng ngàn con

    Trai có gái có , tài khôn rõ ràng

    Mặt trời đã xế vàng vàng

    Con xa ngái mẹ lại càng thương thay

    Cách nhau đã bốn năm ngày

    Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng

    (Phiên chợ Cam Lộ)

    Một số câu đố khác theo lối "đố tục giảng thanh" cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.

    Các loại trữ tình

    Ca dao dân ca là thể loại trữ tình, phản ánh một cách trung thực tâm tình của người dân vùng này.

    Cao dao Quảng Trị thể hiện tình yêu đôi lứa thường nhẹ nhàng. Tình cảm trai gái không bộc lộ một cách lộ liễu mà kín đáo, tuy không kém phần mãnh liệt:

    Chập choạng bóng trăng em xem chưa rõ

    Chập choạng bóng đèn em ngó chưa tường

    Dáng ai như dáng người thương

    Không vô đây phân giải một đôi đường cho em hay

    Tuy nhiên, dưới chế độ phong kiến, đạo lý Khổng Mạnh vẫn là đạo lý làm cơ sở cho các cuộc hôn nhân. Họ yêu nhau nhưng người con gái không thể hoàn toàn tự ý lựa chọn ý trung nhân của mình. Đó là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều tấn bi kịch trong xã hội ở Quảng Trị ngày trước:

    Thốt ra tới đâu dạ thiếp sầu tới đó

    Cuộc chung tình chàng chưa rõ bấy lâu

    Vì ai xê vô lật ván tháo cầu

    Trai say dọi gái, gái thảm sầu dọi duyên.

    Ngoài các câu ca dao thể hiện tình yêu trai gái, những nội dung khác của ca dao là quan hệ gia đình và các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội. Trong nội dung này, ca dao Quảng Trị cũng có những nét tương đồng với ca dao của những vùng khác trong nước.

    Đối với quê hương, tình cảm của người dân Quảng Trị thật gắn bó, thiết tha. Đất Quảng Trị vốn là đất tán hơn đất tụ. Chiến tranh và hoàn cảnh lịch sử lại gây sự mất mát, qua phân trên vùng đất gian khổ này. Có lẽ vì lý do đó nên tâm tình của người dân đối với quê nghèo thật thiết tha, cảm động:

    Ai về Đông Hà, ai qua Cam Lộ

    Ai về Gia Độ, ai đến Gio Linh

    Ai về Triệu Phong Quảng Trị quê mình

    Cho em nhắn gởi chút tình nhớ thương.

    Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại Hào, Phương Ngạn:

    Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột

    Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây

    Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày

    Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

    Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển. Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

    Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.

    Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở

    Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương

    Bao giờ giặc Mỹ hết phương

    Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

    Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và tâm tình thiết tha ấy.

    Xét nghệ thuật ca dao dân ca vùng này, ta sẽ thấy những nét chung cũng như nét riêng trong hình thức sáng tác. Thể lục bát và song thất lục bát rất phổ biến do phù hợp với thể loại hò mái nhì và hò giã gạo. Đó là hai loại hò rất được dân Trị Thiên ưa chuộng.

    Tuy về cơ bản là như vậy nhưng rất ít khi người dân ở đây hò nguyên xi đúng chữ, đúng câu mà thường thêm một số chữ cho câu hò trọn vẹn, hoặc để diễn đạt hết ý tình của người hò. Câu lục bát kết thúc bài hò thường được thêm chữ ở cả hai câu:

    Nạn chiến tranh gây nên tang tóc

    Cảnh điêu tàn chết chóc đau thương

    Sơ tán ra đi mẹ một ngả con một đường

    Chồng thời xa vợ những đau thương đêm ngày

    Có khi thêm vào hai câu song thất và câu kết:

    Đứng bên ni Bình An, nhìn sang bãi Cát Sơn, Thuỷ Bạn

    Ruột thắt từng chặng, muối xát vào lòng

    Nào ai vui vợ vui chồng

    Còn em ngĩ tới miền nam ruột thịt đang nhuộm vết máu hồng uất căm.

    Có khi lại bớt chữ ở hai câu thất:

    Muối ba năm còn mặn

    Gừng chín tháng còn cay

    Ai dù xuyên tạc lung lay

    Trị Thiên ta ơn Đảng, lòng này thuỷ chung

    Như vậy , sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được.

    Sự hợp vần trong cac dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

    Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp:

    - Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít

    Trầu cả chợ răng nói trầu không

    Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi

    - Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ?

    Cây không biết chữ răng gọi là thông ?

    Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi

    Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh:

    Ngồi buồn nói chuyện trên non

    Một trăm thứ cá có con không thằng

    - Thầy ơi chớ nói bao đồng

    Một trăm thứ cọp có ông không bà

    Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã:

    Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng

    Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung

    - Anh về thưa với hai họ rõ ràng

    Mời thân nhân lại , em mở khuôn vàng cho coi

    Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người ở đây mới tạo được một phong cách riêng.

    Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học. Câu hò đối đáp nam nữ ở Quảng Trị hẳn là do ảnh hưởng lời đối đáp giữa Phan Bội Châu với các cô giá phường vải:

    Em trao cho anh một nắm bắp rang

    Anh trỉa làm sao cho mọc, thiếp với chàng trao duyên

    Đồn bên em có miếng đất hoang

    Mưa ba năm không ướt, hạn chín tháng nỏ khô

    Đến đây anh trỉa, trỉa vô mọc liền

    Thiếp trao cho chàng một nắm ngô rang

    Chàng đúc nơi mô cho mọc thiếp thắp nhang mời về

    Chỗ nào mà nắng không khô

    Mà mưa không ướt đúc vô mọc liền

    Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm của người dân ở vùng đất mới, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu. Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt nam thêm phần phong phú.

    b. Thơ:

    Kết nạp Đảng trên quê mẹ

    Nhớ về anh (Tố Hữu)

    Nhớ về Quảng Trị (Nguyễn Viết Tùng)

    Và một số bài khác của các tác giả Nguyễn Tiến Đạt, Phan Bùi Bảo Thi
  2. Minhvip

    Minhvip Thành viên tích cực

    Quảng Trị qua mấy vần ca dao

    Người Thôn Dương
    Thuở nhỏ, chúng tôi thường nghe Mẹ hát ru em, có những câu ca dao quen thuộc đối với người Quảng Trị, mỗi địa phương có thay đổi một đôi lời cho phù hợp với địa phương của mình... Những câu ca dao đó đã thâm nhập vào tâm hồn tôi, khi xa quê, tôi thường ngâm nga cho đỡ nhớ quê nhà. Mỗi câu ca dao thường nhắc đến một địa danh và mang một mối tình quê, một câu chuyện trong lịch sử, có liên quan đến Quảng Trị. Chúng tôi xin sao lục lại để bà con mình cùng nhớ về quê hương, nhất là giúp các bạn trẻ đôi chút hiểu biết về quê nhà.

    Đưa anh tới chốn nhà Hồ,
    Anh mua trái mít, anh bù trái thơm.
    Trái thơm là trái thơm non,
    Bổ ra làm tám ăn chon như dừa.

    (chon: dòn)

    hoặc câu:
    Yêu em, anh cũng muốn vô.
    Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang,
    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,
    Truông nhà Hồ, nội tán phá tan.


    Truông nhà Hồ tức làng Hồ Xá, thuộc huyện Vĩnh Linh, thời Nguyễn Hoàng, năm 1570, tướng nhà Mạc là Lập Bạo đem quân vào đánh Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng dùng mỹ nhân kế, bắt được Lập Bạo tại Bến Trảu, quân của Lập Bạo thua, một số ra đầu hàng, được Nguyễn Hoàng cho định cư ở vùng Bát Phường (nay là các làng Vạn Kim, Vạn Thiện...), một số chạy vào rừng, tụ tập thành đảng cướp ở vùng Hồ Xá, người qua lại trên đường từ Bắc vô Nam hay bị chúng đón đường cướp bóc. Về sau có Nội tán Nguyễn Khoa Đăng lập mưu vào tận sào huyệt của bọn chúng, giết được tên cầm đầu, từ đó mới yên.

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử,
    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu.
    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu,
    Nghe con chim quyên kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng


    Đây là lối chơi chữ, ái tử là thương con, vọng phu là trông chồng. Cầu ái Tử trên đường Quốc Lộ I từ Quảng Trị đi Đông Hà, ngày xưa ở đây là bãi cát hoang, Nguyễn Hoàng đóng quân ở đó, năm 1558, gọi là Dinh Cát. Nơi đó trước 1972, hãy còn một số di tích như mô súng (nơi đặt súng đại bác), chỗ đúc đạn, dấu chân thành và một số gạch xưa... Núi Vọng Phu ở tỉnh Phú Yên (đèo Cả).

    Chẳng thơm cũng thể bạch đàn,
    Chẳng trong cũng thể đá hàn chảy ra.


    hay là:

    Nước Đá Hàn hòa trong hòa mát,
    Bãi Cồn Cờ, nhỏ cát dễ đi.


    Đá Hàn tên chữ là Thạch Hãn (hãn là mồ hôi), nước từ trong đó chảy ra, rất trong. Thạch Hãn hay Đá Hàn là tên một làng ở ngay thị xã Quảng Trị, cũng là tên con sông chảy qua thị xã Quảng Trị. Bãi Cồn Cờ là bãi cát bên sông, nơi ngày xưa đóng quân có cột cờ.

    Ru em, em théc* cho muồi,
    Để mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu,
    Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,
    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    *théc: ngủ

    Chợ Quán tức chợ Quán Hầu ở sông Nhật Lệ, Quảng Bình. Chợ Cầu tức chợ bên cạnh cái cầu nhỏ ngày xưa, gần huyện lỵ Gio Linh. Tỉnh Quảng Trị. Nam Phổ và Chợ Dinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.

    Trăm năm nhiễu nỗi hẹn hò.
    Cây da bến có con đò khác đưa.
    Cây da bến cộ còn lưa,
    Con đò đã thác năm tê rồi.
    (Cụ Thái Văn Kiểm viết là: Trăm năm dù lỗi hẹn hò…)


    Đây là câu chuyện tình giữa cô gái chèo đò duyên dáng và cậu học trò ngoài Bắc vô thi, qua đò gặp gỡ rồi hẹn hò nhau. Cậu học trò thi đỗ trở lại thì cô gái đã chết rồi. Ở Quảng Trị người ta hát là cây da chứ không phải là cây đa. Bến cộ tức là bến cũ (tiếng địa phương là cộ). Tê rồi là kia rồi.

    Hết gạo thì có Đồng Nai,
    Hết củi thì có Tân Sài chở vô


    Quảng Trị có làng Tân Sài, đây là cách nói chơi chữ vì Tân và Sài có nghĩa là củi. Đồng Nai là đất Biên Hòa, là miền trù phú ở trong Nam.
    Còn biết bao câu ca dao như trên mà chúng tôi không nhớ hết, ước mong bà con đồng hương bổ túc thêm cho.
    MINH CHÂU​
  3. Minhvip

    Minhvip Thành viên tích cực

    Hồ Chư
    [​IMG]
    Tiểu sử
    - Dân tộc Vân Kiều. Sinh 1949.
    - Quê quán: Quảng Trị.
    - Tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1974.
    Đã xuất bản các tập thơ: Hoa trên đá (NXB Văn hoá Dân tộc, 1999); Dòng mưa muộn màng (NXB Văn hoá dân tộc, 2003); Theo dòng Krong Klang (NXB Hội Nhà văn, 2007).

    Gửi lại em


    Em như con nai lạc giữa Trường Sơn
    Lạc giữa cỏ cây hoa lá
    Lạc giữa bộn bề nắng mưa vất vả
    Lạc giữa si mê tạo hoá con người
    Em như ánh sao trời
    Thăm thẳm quá
    Và xa vời vợi
    Gần tấc gang mà không sao đi tới
    Một tầm nhìn mà như thể biển khơi.
    Em như một làn gió thảnh thơi
    Thoáng qua đời anh phút chốc
    Em như một nhánh cỏ mềm
    Mà buộc trái tim anh rất chặt.
    Em như ngọn lửa hồng không tắt
    Cháy mãi trong tim anh nồng nàn
    Tiếng nói em như thể tiếng đàn
    Ngân nga mãi một tình yêu cháy bỏng.



    Theo dòng Krông Klang


    Krông Klang huyền thoại
    Của tình yêu lứa đôi
    Dòng sông hay dòng lệ
    Từ những thuở xa xôi?
    Cánh đại bàng không mỏi
    Bay theo dọc thời gian
    Câu chuyện tình huyền thoại
    Thành dòng nước Krông Klang.
    Dòng sông chảy mênh mang
    Xanh xanh bao triền núi
    Cuộc đời ta thay đổi
    Hương mật lên tươi non.
    Tiếng chim chiều véo von
    Bàng bạc mây về núi
    Lao xao tiếng gió thổi
    Rừng lay động ngàn xa.
    Ta hát khúc tình ca
    Dòng Krông Klang tươi mới
    Con đường ta đi tới
    Sáng một cõi Trường Sơn!

    Hồ Chư

    Lao Động Cuối tuần số 39 Ngày 07/10/2007

    Bài viết có liên quan đến Hồ Chư.


    Khèn Amam tắt dần trên đỉnh núi
    13/06/2005

    Lâu nay, khi nói đến việc bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc, bạn tôi cứ cười khẩy, rằng đó là việc của thiên hạ, của những chốn phồn hoa đô thị nhạy cảm với nhiều luồng văn hóa, còn đối với những bản làng nghèo khổ như đất rẫy bạc màu, mỗi nơi dăm bảy nóc nhà sàn nằm rải rác dưới chân dãy Trường Sơn, tiền xu chưa đủ kết thành chuỗi cườm trang sức thì “vốn liếng” văn hóa của họ đi đâu mà mất...

    Già làng Vỗ Hôm và khèn Amam

    Già làng Vỗ Hôm đã sống qua bảy mươi mùa rẫy, vóc người đậm đà, da cháy sạm như đồng hun. Bản Kợp của xã Húc Nghì huyện Đakrông được coi là “tiền trạm” trên con đường Trường Sơn huyền thoại chạy vào Tà Rụt, một xã vùng biên của tỉnh Quảng Trị, trước khi đi qua A Lưới của Thừa Thiên-Huế để vào miền Nam. Già làng Vỗ Hôm tự hào chính đáng về bản Kợp của mình bởi hết thời kỳ đánh Pháp đến thời kỳ chống Mỹ, người dân của bản làng luôn sống chung, sẻ chia từng hạt muối với bộ đội Cụ Hồ.

    Đường Trường Sơn năm xưa trong trí nhớ của già làng là một kho chuyện dài bất tận tưởng như không có điểm dừng và đâu đâu cũng sặc sụa mùi khói súng. Bao giờ cũng thế, mỗi lần kể, tay Già làng lại chỉ ra phía trước sân nhà sàn, nơi có cây bằng lăng cổ thụ gồ ghề đầy vết sẹo.

    Thân cây nghiêng hẳn về một phía, nghiêng lớp lá già nua về phía con đường Trường Sơn đi qua trước ngõ như mặc niệm một thời quá vãng. Già làng Vỗ Hôm đếm được cả thảy mười bốn mảnh bom lớn trên thân cây bằng lăng, chưa kể một cành bị gãy hồi chiến tranh, vết sẹo chỗ đó xếp lớp chảy xuống dưới trông như một giọt nước mắt lớn chực nhỏ về phía gốc cây bằng lăng.

    Mấy chục năm rồi, giọt nước mắt ấy vẫn không chịu rơi. Nó đã khô thành sẹo. Già làng Vỗ Hôm nói “cây không sợ bom, con đường không sợ bom và người dân bản Kợp cũng không sợ bom”. Con đường Trường Sơn bây giờ được trải thảm nhựa phẳng lì, mất hút ở một khúc ngoặt. Già làng ước ao được một lần đi hết con đường đó, mặt nhựa đen bóng thật êm cái chân trước khi đi lên rẫy. Bản Kợp thì vẫn nghèo.

    Trên vách nhà sàn của già làng treo đầy các loại nhạc cụ và một bộ nhạc khí (trống, cồng, chiêng) của người Vân Kiều. Cái gì cũng cũ kỹ, mòn vẹt, vương vãi đầy bồ hóng. Khèn Amam nằm mất hút ở trong dãy nhạc cụ, treo chỗ gần bếp nhà sàn nhất. Nó được làm bằng ống giang nhỏ, chiều dài áng chừng hai gang tay, trên thân có ba lỗ nhỏ điều tiết khí. Thời gian đã làm cho nó chuyển hẳn qua màu hổ phách.

    Vợ chồng Già làng Vỗ Hôm đãi chúng tôi một khúc tấu khèn Amam ngay dưới tán cây bằng lăng. Hai người ngồi đối diện với nhau, miệng nối miệng bởi khèn Amam. Cụ bà ngượng, tay lóng ngóng bám vào một phía. Khi thanh âm đầu tiên dè dặt thoảng qua đầu môi như bị hẫng, bà cụ bỗng giật mình, hai ngón trỏ bất chợt sực tỉnh ấn nhẹ xuống thân kèn... Mấy giây trôi qua, gương mặt cả hai người trở nên nhẹ tênh và dường như họ đã lãng quên xung quanh để sống với khúc cổ nhạc.

    Tôi vốn ít nhiều đã nghe qua một số điệu khèn, đa phần lại ở những nơi diễn xướng cộng đồng chỗ đông người nên lần này mới thấy trách mình, tự thấy mình sơ sót, ít ra là với già làng Vỗ Hôm, người một đời nặng nợ với nhạc, đau lòng trước cảnh những bộ nhạc khí bị xé lẻ, bị đem bán và rồi lo khèn Amam sau này biến mất. Dưới gốc cây bằng lăng, hai con người vẫn chụm đầu lại với nhau. Họ đang tấu điệu khèn dạm hỏi chăng? Tiếng khèn nghe da diết, xa xôi quá.

    Hai người nên vợ nên chồng cũng đã nhờ Amam!

    Tiếng khèn tắt dần trên đỉnh núi

    Amam là một nhạc cụ độc đáo của đồng bào Vân Kiều miền Tây Quảng Trị. Nó độc đáo bởi tính cổ xưa, tính độc nhất vô nhị trong nhiều loại nhạc cụ hiện có của người Vân Kiều, Pa Kô cũng như của đồng bào các dân tộc nói chung. Amam là “khèn đôi” của người Vân Kiều.

    Các loại khèn của người Pa Kô hoặc người Dao vùng Tây Bắc, người Êđê ở Tây Nguyên chỉ một người thổi, còn Amam lại dùng cho hai người thổi. Hai người, một nam, một nữ, có tình ý với nhau, ưa nhau nhưng đang ở giai đoạn tìm hiểu nhau tìm hiểu thông qua khèn Amam. Sức cuốn hút, âm hưởng từ luồng hơi của người thổi (thể hiện sức khỏe, ý chí, khả năng) là những thông điệp mà người bên kia (cô gái) có thể cảm nhận được.

    Rốt cuộc, họ lấy được nhau hay không, chính xác là cô gái có chấp nhận tình yêu của bạn tình hay không là nhờ những lần giao duyên như thế. Già làng Vỗ Hôm ví “nó là nụ hôn đầu tiên của tổ tiên, của núi rừng”. Nụ hôn ấy có cầu nối hẳn hoi, cũng ý tứ “thụ thụ bất thân” nghiêm chỉnh lắm, ngầm ý rằng tôi đến với anh thật bụng, thật lòng, nhưng không dễ dãi, buông tuồng; anh chỉ có thể lấy khèn làm điểm chung và lấy tiếng khèn để ướm hỏi, dạm hỏi bạn tình! Thế thôi.

    Những cuộc tỏ tình, ướm hỏi đó đã đưa hai người lại với nhau, tự nguyện, đồng điệu, đồng cảm giữa hai tâm hồn và đó là “con đường hôn nhân” cổ sơ nhằm duy trì, bảo toàn nòi giống của một tộc người. Nói khác đi, về bản chất, Amam đã gắn kết cộng đồng người Vân Kiều qua các thế hệ.

    Ngày nay, kiểu giao duyên, tìm hiểu bạn tình theo cách thức Amam bị mai một dần. Ông Hồ Chư, nhà nghiên cứu văn hóa Bru-Vân Kiều thổ lộ với vẻ đầy tâm sự: “Tục đi sim (một kiểu tỏ tình qua âm nhạc) theo lối hiện đại với sự xâm nhập của video, karaoke... đã làm cho thanh niên dân tộc hiện nay quên hẳn Amam và thực tế, nó đang bị thất truyền”. Cũng theo ông Hồ Chư, hiện tại trên địa bàn huyện Đakrông chỉ còn hai nghệ nhân thổi được khèn Amam. Già làng Vỗ Hôm ở trong số đó.

    Hai nghệ nhân đó, với riêng khèn Amam, xem như bằng chứng sống, là những đại diện cuối cùng của một tập tục, một nét đẹp văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào dân tộc miền Tây Quảng Trị còn sót lại.

    Lễ hội văn hóa các dân tộc lần thứ nhất tổ chức tại Đakrông vừa qua có Già làng Vỗ Hôm biểu diễn, nhưng không phải biểu diễn khèn Amam. Vỗ Hôm trong đoàn nghệ nhân Bru-Vân Kiều biểu diễn vũ khúc Rayuak, khèn bè và làn điệu Tauaiq-một làn điệu trữ tình trong sinh hoạt văn hóa sim-langơp. Các loại khèn của người Pa Kô hoặc người Dao vùng Tây Bắc, người Êđê ở Tây Nguyên chỉ một người thổi, còn Amam lại dùng cho hai người thổi. Hai người, một nam, một nữ, có tình ý với nhau, ưa nhau nhưng đang ở giai đoạn tìm hiểu nhau tìm hiểu thông qua khèn Amam. Sức cuốn hút, âm hưởng từ luồng hơi của người thổi (thể hiện sức khỏe, ý chí, khả năng) là những thông điệp mà người bên kia (cô gái) có thể cảm nhận được.

    Rốt cuộc, họ lấy được nhau hay không, chính xác là cô gái có chấp nhận tình yêu của bạn tình hay không là nhờ những lần giao duyên như thế. Già làng Vỗ Hôm ví “nó là nụ hôn đầu tiên của tổ tiên, của núi rừng”. Nụ hôn ấy có cầu nối hẳn hoi, cũng ý tứ “thụ thụ bất thân” nghiêm chỉnh lắm, ngầm ý rằng tôi đến với anh thật bụng, thật lòng, nhưng không dễ dãi, buông tuồng; anh chỉ có thể lấy khèn làm điểm chung và lấy tiếng khèn để ướm hỏi, dạm hỏi bạn tình! Thế thôi.

    Những cuộc tỏ tình, ướm hỏi đó đã đưa hai người lại với nhau, tự nguyện, đồng điệu, đồng cảm giữa hai tâm hồn và đó là “con đường hôn nhân” cổ sơ nhằm duy trì, bảo toàn nòi giống của một tộc người. Nói khác đi, về bản chất, Amam đã gắn kết cộng đồng người Vân Kiều qua các thế hệ.

    Ngày nay, kiểu giao duyên, tìm hiểu bạn tình theo cách thức Amam bị mai một dần. Ông Hồ Chư, nhà nghiên cứu văn hóa Bru-Vân Kiều thổ lộ với vẻ đầy tâm sự: “Tục đi sim (một kiểu tỏ tình qua âm nhạc) theo lối hiện đại với sự xâm nhập của video, karaoke... đã làm cho thanh niên dân tộc hiện nay quên hẳn Amam và thực tế, nó đang bị thất truyền”. Cũng theo ông Hồ Chư, hiện tại trên địa bàn huyện Đakrông chỉ còn hai nghệ nhân thổi được khèn Amam. Già làng Vỗ Hôm ở trong số đó.

    Hai nghệ nhân đó, với riêng khèn Amam, xem như bằng chứng sống, là những đại diện cuối cùng của một tập tục, một nét đẹp văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào dân tộc miền Tây Quảng Trị còn sót lại.

    Lễ hội văn hóa các dân tộc lần thứ nhất tổ chức tại Đakrông vừa qua có Già làng Vỗ Hôm biểu diễn, nhưng không phải biểu diễn khèn Amam. Vỗ Hôm trong đoàn nghệ nhân Bru-Vân Kiều biểu diễn vũ khúc Rayuak, khèn bè và làn điệu Tauaiq-một làn điệu trữ tình trong sinh hoạt văn hóa sim-langơp. Các loại khèn của người Pa Kô hoặc người Dao vùng Tây Bắc, người Êđê ở Tây Nguyên chỉ một người thổi, còn Amam lại dùng cho hai người thổi. Hai người, một nam, một nữ, có tình ý với nhau, ưa nhau nhưng đang ở giai đoạn tìm hiểu nhau tìm hiểu thông qua khèn Amam. Sức cuốn hút, âm hưởng từ luồng hơi của người thổi (thể hiện sức khỏe, ý chí, khả năng) là những thông điệp mà người bên kia (cô gái) có thể cảm nhận được.

    Rốt cuộc, họ lấy được nhau hay không, chính xác là cô gái có chấp nhận tình yêu của bạn tình hay không là nhờ những lần giao duyên như thế. Già làng Vỗ Hôm ví “nó là nụ hôn đầu tiên của tổ tiên, của núi rừng”. Nụ hôn ấy có cầu nối hẳn hoi, cũng ý tứ “thụ thụ bất thân” nghiêm chỉnh lắm, ngầm ý rằng tôi đến với anh thật bụng, thật lòng, nhưng không dễ dãi, buông tuồng; anh chỉ có thể lấy khèn làm điểm chung và lấy tiếng khèn để ướm hỏi, dạm hỏi bạn tình! Thế thôi.

    Những cuộc tỏ tình, ướm hỏi đó đã đưa hai người lại với nhau, tự nguyện, đồng điệu, đồng cảm giữa hai tâm hồn và đó là “con đường hôn nhân” cổ sơ nhằm duy trì, bảo toàn nòi giống của một tộc người. Nói khác đi, về bản chất, Amam đã gắn kết cộng đồng người Vân Kiều qua các thế hệ.

    Ngày nay, kiểu giao duyên, tìm hiểu bạn tình theo cách thức Amam bị mai một dần. Ông Hồ Chư, nhà nghiên cứu văn hóa Bru-Vân Kiều thổ lộ với vẻ đầy tâm sự: “Tục đi sim (một kiểu tỏ tình qua âm nhạc) theo lối hiện đại với sự xâm nhập của video, karaoke... đã làm cho thanh niên dân tộc hiện nay quên hẳn Amam và thực tế, nó đang bị thất truyền”. Cũng theo ông Hồ Chư, hiện tại trên địa bàn huyện Đakrông chỉ còn hai nghệ nhân thổi được khèn Amam. Già làng Vỗ Hôm ở trong số đó.

    Hai nghệ nhân đó, với riêng khèn Amam, xem như bằng chứng sống, là những đại diện cuối cùng của một tập tục, một nét đẹp văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào dân tộc miền Tây Quảng Trị còn sót lại.

    Lễ hội văn hóa các dân tộc lần thứ nhất tổ chức tại Đakrông vừa qua có Già làng Vỗ Hôm biểu diễn, nhưng không phải biểu diễn khèn Amam. Vỗ Hôm trong đoàn nghệ nhân Bru-Vân Kiều biểu diễn vũ khúc Rayuak, khèn bè và làn điệu Tauaiq-một làn điệu trữ tình trong sinh hoạt văn hóa sim-langơp.

    Thiếu Amam nhưng trong đêm khai mạc lễ hội, già làng Vỗ Hôm vẫn vui không tả xiết. Trong mắt ông dường như có một đốm sáng vừa được nhóm lên, hoặc đồ như ngọn lửa thiêng ngàn đời của Trường Sơn đã sống lại. Bất giác, tôi trộm nghĩ, rồi mai đây, trong các lễ hội lần sau, lần sau nữa, sau khèn Amam, trong số hàng chục loại nhạc cụ và bộ nhạc khí của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô hiện có, đến lượt nhạc cụ nào sẽ thiếu vắng? Lúc đó, không biết già làng Vỗ Hôm có còn vui...?
  4. Chiếc Nhẫn Cỏ

    Chiếc Nhẫn Cỏ Thành viên tích cực

    Update cho một ngày QT trời nắng ấm...:X
  5. tiengtrongninhchau

    tiengtrongninhchau Thành viên chăm ngoan

    Các bạn Sưu tầm nên để nguồn trích dẩn nhé.
    Thân
    tiengtrongninhchau
  6. Lão Tử

    Lão Tử Thành viên chăm ngoan

    Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột

    Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây

    Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày

    Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Chia sẻ trang này