Topic bổ sung thông tin về Cam Lộ, Cùa, Lê Thế Hiếu...

Thảo luận trong 'Wikipedia cho Quảng Trị' bắt đầu bởi Adv, 26/5/09.

  1. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Vùng Cùa
    Vùng Cùa là miền đất đỏ bazan thuộc huyện Cam Lộ (Quảng Trị) gồm hai xã là Cam Chính và Cam Nghĩa. Cùa không chỉ nổi tiếng với đặc sản hồ tiêu mà còn là vùng đất lịch sử có căn cứ Tân Sở của thời vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương đánh giặc Pháp, là chiến khu vững chắc của Quảng Trị trong hai cuộc chiến thời Pháp và Mỹ.
    Từ đường Chín (Đông Hà lên Lao Bảo) qua thị trấn Cam Lộ vào đến chợ Cùa chỉ xa chừng bảy cây số nhưng phải vượt qua một con đèo quanh co dài năm cây số. Bây giờ người ta gọi nó là đèo Cùa nhưng xa xưa nó có tên là đèo Vắt. Ngày trước dọc năm cây số đường đèo uốn khúc, gập ghềnh, chỉ rặt những bụi cây lúp xúp, sim móc mọc chen nhau nhiều vô kể. Bom đạn tàn phá, chất độc màu da cam hủy diệt suốt mấy chục năm chiến tranh ác liệt lại thêm cái khắc bạc của thiên nhiên Quảng Trị làm cho những cánh rừng ở đây sớm bị lụi tàn, trơ trụi.
    Con đường vào Cùa hôm nay đẹp như một dải lụa vắt qua núi. Đường miền núi nhưng rộng rãi, mặt rải nhựa phẳng lì, những đoạn dốc cao đã được bạt xuống, không còn cua tay áo nữa. Từ chợ về các thôn một số đoạn đã được nhựa hóa, bê tông hóa và kém lắm cũng rải cấp phối. Vùng Cùa heo hút ngày nào bây giờ quá gần với huyện lỵ là thị trấn Cam Lộ và thị xã Đông Hà. Cùa gần hơn với cả nước và cả thế giới nhờ mạng điện thoại di động Viettel và Mobi đã phủ sóng tại đây. Quả là một bước ngoặt về thông tin ở vùng đất chiến khu xưa này và là một dấu hiệu tốt đẹp của nền kinh tế đang phát triển và chất lượng cuộc sống được cải thiện.Chương trình điện- đường- trường-trạm, cơ bản đã được thực hiện ở Cùa. Điện lưới quốc gia thắp sáng mọi nhà, không ai còn phải chịu cảnh sống trong ánh đèn dầu. 100% gia đình có ti vi và trên 80% gia đình có xe máy. Các trường tiểu học, trung học phổ thông mang tên nhà cách mạng Lê Thế Hiếu đã được xây dựng cơ bản, khá khang trang và bề thế. Học sinh đến trường không ai phải mặc áo vá, ăn cơm độn sắn khoai như trước đây. Trạm xá khu vực xây cách đây mười lăm năm, chưa được tân trang mở rộng thêm nhưng vẫn là nơi khám chữa bệnh có uy tín của nhân dân trong vùng. Cùa là xứ sở của núi non hữu tình, in đậm những dấu tích lịch sử đáng trân trọng và con người ngay thật, cởi mở. Con gái Cùa nổi tiếng về dáng vóc đẹp, lam làm, khéo tay và chiều chồng. Đến chợ Cùa vào những dịp tết, không hiếm dịp khách phương xa phải ngẩn ngơ bởi cái dáng thắt đáy lưng ong và những khuôn mặt trái xoan hiền thục của những cô gái vùng bán sơn địa ở chốn này.
    Qua hết đèo, ta gặp gỡ một vùng thung lũng đất màu mỡ đỏ au là hậu duệ của những dòng nham thạch thời hồng hoang thăm thẳm. Xóm mạc quây quần. Tiêu, chè, chuối, sắn tươi tốt. Người ở giữa cây xanh, cây lên lộc kết trái bên người, cuộc sống an nhiên và hòa thái, nhiều yên tĩnh, ít ham hố tham lam. Ruộng lúa chân đồi. Bàu ao ven xóm. Hạt tiêu xứ Cùa có vị cay không gắt và thơm. Sớm sương, người đi chợ nói cười râm ran. Cuối chiều, tiếng mõ trâu lóc cóc kiệt xóm. Cưới xin, giỗ chạp cũng là dịp dựng rạp mời làng, tuy tốn kém một chút nhưng được cái đoàn tụ hàn huyên rộn ràng.

    Với 56 ha diện tích trồng lúa, xã Cam Chính tập trung gieo cấy các loại giống có năng suất cao, gạo ngon và chống chịu sâu bệnh tốt như XI 23, Khang Dân. Mạnh dạn đưa cây lạc vào trồng tại các vùng đất phẳng và đủ độ ẩm như ở thôn Mai Lộc 1, Mai Lộc 3, Mai Đàn, Sơn Nam, Thiết Xá. Nhưng cây mũi nhọn của xã là cao su, hồ tiêu và trồng rừng. Hiện nay vùng Cùa tập trung chăm sóc 402 ha cao su trong khi đó cây hồ tiêu vẫn là cây chủ lực trên vùng đất Cùa; ngoài việc tiếp tục chăm sóc tốt 137,5 ha đã có, tiếp tục trồng mới, trồng dặm thêm 10 ha ở các vùng dân cư mới. Trồng rừng hiện nay thu được hiệu quả kinh tế rất cao đối với người dân nên Cam Chính và Cam Nghĩa tập trung chăm sóc tốt 1.000 ha rừng đã có và tiếp tục trồng thêm 50 ha rừng ở vùng đồi núi trọc...
    Cùa đất đỏ bazan, tơi xốp mỡ màu, rất hợp với cây hồ tiêu. Hạt tiêu vùng Cùa bé những chắc và cay nồng nàn. Cái vị cay ấm nức mà không gay gắt. Nói đến Cùa là phải nói đến hạt tiêu. Người dân miền Cùa rất mộc mạc, chân thực và ngay thẳng.
    Lãng Tử and vinhtran like this.
  2. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Tại dạo ni bận quá nên ko làm kỹ hơn được, tớ post tạm vào đây rồi bổ sung sửa chữa sau nhé:D
  3. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA TRƯỜNG THPT LÊ THẾ HIẾU
    I. Lịch sử ra đời của Trường THPT Lê Thế Hiếu
    Cách mạng tháng Tám thành công, cùng cả nước hưởng ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Bác , nhân dân Quảng Trị nô nức mở lớp, mở trường. Tất cả các xã đều có trường học hay mở lớp xoá mù chữ. Nhưng chẳng bao lâu, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, Quảng Trị cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập. Sự nghiệp giáo dục vì thế chững lại, việc học hành các em bị gián đoạn một thời gian. Mãi đến năm 1947 ở vùng tự do, vùng căn cứ du kích các cơ sở bắt đầu mở lại trường học. Do nhu cầu cán bộ cho kháng chiến và kiến quốc một số con em Quảng Trị được gửi ra vùng tự do Nghệ Tĩnh.
    Năm 1950, cùng với sự phát triển mọi mặt của cuộc kháng chiến, nhu cầu cán bộ ngày càng cao. Tỉnh uỷ, UB kháng chiến hành chính Quảng Trị chủ trương mở trường trung học tại tỉnh nhà. Đó là trường phổ thông cấp 2 Lê Thế Hiếu nay là trường THPT Lê Thế Hiếu.
    II. Những thành tích của nhà trường từ ngày thành lập đến nay:
    Quá trình phát triển và thành tích của trường đã đạt được trong 59 năm qua gắn liền với năm giai đoạn lịch sử chính.
    1. Giai đoạn đầu tiên : tháng 9 năm 1950 đến 1954:
    Tháng 9 năm 1950, trường phổ thông cấp II Lê Thế Hiếu chính thức ra đời tại chiến khu Cùa. Đó là ngôi trường cấp 2 đầu tiên của Tỉnh Quảng Trị vinh dự được mang tên đồng chí Lê Thế Hiếu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, đại biểu quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà khoá I. Và là vị chủ tịch đầu tiên của chính quyền cách mạng tỉnh Quảng Trị.
    Trường Lê Thế Hiếu ra đời là dấu ấn quan trọng đặt nền móng cho sự nghiệp phát triển giáo dục của Tỉnh nhà. Trường được đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, UB kháng chiến và dưới sự chỉ đạo trực tiếp chuyên môn của Ty giáo dục quảng Trị.
    Ngay trong năm đầu thành lập trường đã có 13 lớp. Mặc dầu trường gặp nhiều khó khăn, bộ máy của trường vẫn được tổ chức chặt chẽ. Bên cạnh ban quản trị kiêm hội đồng kỹ luật do Hiệu trưởng nhà trường làm chủ tịch còn có hội đồng giáo viên, hiệu đoàn học sinh. Thầy giáo Phan Cự Nhân, nguyên là Hiệu trưởng trường đại học tổng hợp Hà Nội là Hiệu trưởng đầu tiên của trường. Nhà trường chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ đảng. Thầy giáo Hồ Sỹ Phan, lúc ấy là uỷ viên BCH huyện Đảng bộ Cam Lộ được phân công trực tiếp làm bí thư Chi bộ.
    Ngày khai trường đầu tiên cũng là ngày nhân dân Cam Lộc (Nay là hai xã Cam Chính, Cam Nghĩa) thay mặt nhân dân cả Tỉnh đón chào những thầy cô giáo đầu tiên đến từ nhiều miền quê Thanh Nghệ Tĩnh và lớp lớp Học sinh từ mọi bản làng Quảng Trị về đây tụ hội. Thế hệ thầy giáo, học sinh đầu tiên ấy chính là những người thắp lên ánh sáng văn hoá, đốt lên ngọn đuốc mở đường cho sự nghiệp giáo dục Quảng Trị. Các thầy, các cô, các ông, các bác mãi là niềm tự hào, mãi mãi sống trong sự tin yêu và lòng biết ơn của nhân dân cũng như ngành giáo dục Quảng Trị.
    Ngày đầu lập trường trước vô vàn khó khăn thiếu thốn, trường tranh, vách nứa, bàn ghế tạm bợ, thậm chí sách tài liệu không có, giáo viên phải tự soạn chương trình lên lớp, nơi ăn chốn ở phân tán, nhưng bằng ý chí nghị lực, tâm huyết nghề nghiệp trách nhiệm cao và tinh thần cách mạng bừng sôi, nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, để lại trong nhân dân và các cấp lãnh đạo những ấn tượng đẹp khó phai mờ, được nhân dân tin yêu và kính trọng. Bên cạnh việc dạy học nhà trường cùng nhân dân tích cực tham gia lao động sản xuất, cùng nhân dân tổ chức kháng chiến. Nhà trường luôn coi trọng nếp sống quân sự hoá, chuẩn bị điều kiện bổ sung vào lực lượng vũ trang. Những ngày ấy nhà trường trở thành hạt nhân tâm điểm văn hoá giáo dục, mang ánh sáng văn hoá, niềm tin của Đảng đến với mọi người dân, nhà trường đã đào tạo ra các thế hệ học sinh, có nhiều người đã trở thành nhà lãnh đạo, nhà khoa học cho đất nước.
    Do hoàn cảnh, tháng 8 năm 1954 trường THPT Lê Thế Hiếu tập kết ra Bắc và tạm ngừng hoạt động.
    2. Giai đoạn: tháng 4/1972 đến 6/1990:
    Tháng 4/1972 vùng Cùa được giải phóng, nhân dân từ các ấp chiến lược của Mỹ ngụy trở về làng củ vừa ổn định cuộc sống, vừa chăm lo học hành cho con em. Thời gian này các lớp học tổ chức phân tán theo từng thôn. Giáo viên là bộ đội hoặc thanh niên được đào tạo cấp tốc. Tuy chưa được tổ chức quy mô song đã bước đầu tạo ra phong trào học tập khắp thôn xóm.
    Sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất tổ quốc chính quyền địa phương đã huy động sức mạnh tổng hợp của nhân dân và các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn dựng trường mở lớp. Con em vùng Cùa được cắp sách đến trường. Bất chấp khó khăn thời hậu chiến, phong trào giáo dục Quảng Trị nói chung và vùng Cùa nói riêng lại bừng lên sức sống mới. Các ngành học phổ thông, bổ túc văn hoá và mầm non phát triển rộng khắp. Do nhiều lý do, từ 1975 đến 1990 trường mang nhiều tên khác nhau, quy mô khác nhau qua từng giai đoạn. Song truyền thống hiếu học, trường Lê Thế Hiếu luôn được giữ vững. Noi gương những thầy giáo Lê Thế Hiếu năm xưa, các thầy cô giáo hôm nay bằng trách nhiệm lòng nhiệt huyết, tình yêu thương học trò đã về từng thôn xóm vận động giúp đỡ con em đến trường. Các thầy cô giáo lại là những nhân tố tích cực xây dựng cuộc sống mới, phát triển phong trào giáo dục trên quê hương giải phóng. Với quy mô 18 lớp 760 học sinh trong năm 1975 - 1976 đến năm 1989 - 1990 toàn vùng Cùa đã có 33 lớp 1105 học sinh ở cả 2 bậc học.
    Chất lượng giáo dục được nâng cao tỷ lệ học sinh lên lớp đạt từ 95 - 98%, tốt nghiệp các bậc học từ 97 - 98%. Cơ sở vật chất trường lớp và các điều kiện phục vụ dạy và học từng bước được xây dựng, kiên cố hoá. Nếu từ năm 1975 - 1977 phòng học chỉ tạm bợ, nhà tranh vách đất, một số lớp phải học ở nhà thờ đình làng, trụ sở HTX thì đến năm 1990 cơ sở vật chất của giáo dục vùng Cùa đã được cải thiện đáng kể gồm hàng chục phòng học bán kiên cố được xây dựng.
    3. Giai đoạn: tháng 6/ 1990 đến 8/ 2001:
    Theo nguyện vọng của nhân dân vùng Cùa, của các thế hệ giáo viên học sinh trường Lê Thế Hiếu , ngày 20/6/1990 UBND tỉnh Quảng Trị ra quyết định số 770/QĐ - UB đổi tên trường THCS Cam Chính thành trường THCS Lê Thế Hiếu trở thành trường đào tạo học sinh bậc THCS cho con em toàn vùng Cùa. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao thay đổi của thời gian trường Lê Thế Hiếu lại trở về cái tên yêu dấu, rất đổi tự hào của mình. Mừng vui và xúc động ngập lòng, một lần nữa thành tích và truyền thống của trường Lê Thế Hiếu được các cấp lãnh đạo khẳng định và ghi nhận, được nhân dân trân trọng và nâng niu. Ngọn đuốc mở đường cho sự nghiệp giáo dục hôm nay lại tiếp tục toả sáng trên quê hương Cam Lộ. Từ 411 em năm học 1990 - 1991 đến năm học học 1999 - 2000 trường có 804 học sinh, biên chế thành 18 lớp, gia đình phụ huynh hoàn toàn yên tâm và tin cậy khi gửi con em mình đến trường.
    Trong hoàn cảnh khó khăn chung của toàn nghành, trường THCS Lê Thế Hiếu còn có những khó khăn riêng của một đơn vị miền núi. Mặc dù vậy đội ngủ của trường luôn phát huy nội lực, đoàn kết chia sẻ khó khăn cộng đồng trách nhiệm đồng thời tranh thủ sự chỉ đạo, giúp đỡ UBND huyện Cam Lộ phòng GD&ĐT Cam lộ của địa phương và đơn vị bạn, nên công tác chuyên môn luôn đảm bảo, nhiệm vụ luôn hoàn thành. Cán bộ giáo viên của trường luôn mẫu mực trong lối sống và đạo đức tác phong, vững vàng về tư tưởng chính trị, nhiệt tình trong chuyên môn. Vì vậy chất lượng đội ngủ luôn được ngành đánh giá cao.
    Bên cạnh hoạt động chuyên môn công tác đoàn thể, hoạt động ngoài giờ đều được nhà trường coi trọng. Phong trào TDTT giáo dục sức khoẻ học đường, văn hoá văn nghệ..., đã tạo ra môi trường giáo dục toàn diện gắn kết nhà trường với gia đình, xã hội góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phong trào thi đua dạy tốt học tốt luôn được duy trì và phát huy.
    Từ những năm 1990 nhà trường không ngừng phát triển về quy mô, số lượng và chất lượng. Từ chỗ cơ sở vật chất tạm bợ, nay đã khá khang trang, thư viện, thiết bị từng bước hoàn thiện đang phát huy năng lực và hiệu quả sử dụng. Trường đã sớm xây dựng được một ngôi trường lành mạnh, trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò. Từ đó đến nay nhà trường đã có 5 giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, 15 giáo viên dạy giỏi cấp Huyện. Liên tục nhiều năm trường có học sinh giỏi cấp Tỉnh, cấp Huyện tổng số 120 em, trong đó có 31 em giỏi cấp Tỉnh, 89 em giỏi cấp Huyện, nhà trường liên tục được công nhận là trường tiên tiến cấp Huyện, cấp Tỉnh. Chi bộ nhà trường luôn được công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh, Liên đội liên tục được công nhận là liên đội mạnh cấp Tỉnh. Không những thế nhà trường còn là trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục của cả vùng Cùa.
    4. Giai đoạn: tháng 8/ 2001 đến 8/ 2007
    Cùng với sự phát triển toàn diện của ngành giáo dục, trường THCS Lê Thế Hiếu không ngừng đi lên và ngày càng lớn mạnh. Để đáp ứng nguyện vọng của con em vùng Cùa, được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ngày 31 tháng 8 năm 2001 UBND Tỉnh Quảng Trị quyết định số 2112/QĐ - UB thành lập THPT Lê Thế Hiếu. Tuy là một trường THPT nhưng nhà trường vừa đào tạo học sinh cấp II xã Cam Chính và cấp III của hai xã Cam Chính và Cam Nghĩa. Để đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 07 tháng 8 năm 2007 UBND huyện Cam Lộ đã ký quyết định thành lập trường THCS Lê Thế Hiếu được tách ra từ trường THPT Lê Thế Hiếu. Đó là điểm mốc đáng ghi nhớ, vừa tạo được sự đồng tình phấn khởi cho nhân dân vùng Cùa và chính là điều kiện để trường THPT Lê Thế Hiếu có cơ sở tăng quy mô số lượng và nâng cao chất lượng dạy học.
    Từ những năm 2001 đến năm 2007 nhà trường không ngừng phát triển quy mô về số luợng và chất lượng. Đến nay nhà trường đã có 22 giáo viên dạy giỏi cấp Huyện, 17 giáo viên dạy giỏi cấp Ngành, 12 giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, 02 đồng chí đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh, 10 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp ngành, 02 giáo viên được tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Liên tục nhiều năm trường đã có học sinh giỏi các cấp với tổng số gần 178 giải trong đó 76 giải cấp Tỉnh, 102 giải cấp Huyện, 01 giải thưởng Bùi Dục Tài do Hội khuyến học tỉnh Quảng Trị trao tặng, 01 giải ba cuộc thi đường lên đỉnh Olympia do đài truyền hình Việt Nam VTV3 tổ chức.
    5. Giai đoạn: tháng 8/ 2007 đến 3/2009
    Sau khi trở thành trường THPT độc lập nhà trường có nhiệm vụ đào tạo học sinh cấp III vùng Cùa và một số học sinh trên địa bàn trong Tỉnh đến học. Trong hai năm học 2007 - 2008 và 2008 - 2009 với sự nỗ lực của tập thể cán bộ giáo viên và học sinh nhà trường đã giữ vững và phát huy truyền thống của mái trường Lê Thế Hiếu thân yêu.
    Hiện nay nhà trường có 576 học sinh với 15 lớp, chất lượng đại trà của nhà trường luôn được giữ vững: Chất lượng đào tạo bình quân 25% số lượng học sinh đạt khá giỏi, 90% học sinh đạt tốt nghiệp, tỷ lệ học sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng và TCCN 35%. Chất lượng mũi nhọn đã được đầu tư và thu được kết quả đáng khích lệ: Có 24 giải HSG cấp Tỉnh, có 03 em học sinh tham gia đội tuyển của Tỉnh dự thi HSG Quốc Gia, có 01 em đạt giải khuyến khích HSG Quốc gia môn Hoá, 01 em dự thi đường lên đỉnh Olimpia đạt giải nhì tháng, nhất tuần.
    Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường có 39 đồng chí, trong đó có 32 giáo viên đứng lớp. Hiện nay có 8 đồng chí được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, 8 đồng chí được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp trường. Tất cả cán bộ giáo viên đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo.
    Nhà trường liên tục nhiều năm liền được Sở GD& ĐT, UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ GD tặng Bằng khen. Chi bộ nhà trường luôn được công nhận là Chi bộ trong sạch vững mạnh. Đoàn trường liên tục công nhận là Đoàn trường mạnh cấp Tỉnh.

    · Kết quả thi đua cụ thể.
    - Năm học 2001 - 2002: được UBND tỉnh tặng bằng khen
    - Năm học 2002 - 2003: được Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen
    - Năm học 2003 - 2004: được UBND tỉnh tặng bằng khen
    - Năm học 2004 - 2005: được Bộ trưởng Bộ GD& ĐT tặng bằng khen
    - Năm học 2005 - 2006: được UBND tỉnh tặng bằng khen
    - Năm học 2006 - 2007: được UBND tỉnh tặng bằng khen
    - Năm học 2007 - 2008: được UBND tỉnh tặng bằng khen
    - Ngày 22/12/2008 được Chủ tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng Huân chương lao động hạng Ba.
    Trong 59 năm qua nhà trường đã đào tạo được hàng ngàn học sinh tốt nghiệp THCS và THPT, đã nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương và đất nước. Qua đó để thấy rằng sự nghiệp giáo dục và truyền thống của trường THPT Lê Thế Hiếu vẫn mãi được phát huy và gìn giữ, xứng đáng là niềm tự hào của bao thế hệ thầy và trò trường Lê Thế Hiếu. Nhà trường đã hoàn thành xuất sắc xứ mạng tiên phong của mình trong công tác giáo dục đào tạo.
    Hiện nay toàn thể cán bộ giáo viên và học sinh của nhà trường ra sức phấn đấu, thi đua lập nhiều thành tích và chuẩn bị tốt các điều kiện để tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường.
    Hiệu trưởng Hoàng Thế Hùng
  4. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự



    Tân Sở
    Tân Sở thuộc vùng Cùa gồm 2 xã Cam Chính và Cam Nghĩa của huyện Cam Lộ ngày nay, cách thị xã Quảng Trị 30km về hướng Tây Nam, Tân Sở nằm trên một quả đồi thấp, phía Nam có núi Voi Mẹp cao 1.701m, Tây Nam có động 303, động Nam, Tây Bắc có đồi 241, Chính Bắc có động Chóp Bụt, Đông Bắc có đèo Cùa án ngữ. Tân Sở được bốn bề che chắn bởi núi đồi chập chùng, hiểm trở bao quanh, biệt lập và kín đáo rất lý tưởng để xây dựng thành lũy. Hơn nữa Tân Sở có lối thông qua Lào và ra Bắc theo hai lối thượng đạo: một là dọc theo phía Đông dãy Trường Sơn, hai là đi qua Lao Bảo, Khe Sanh theo phía Tây Trường Sơn. Vua Hàm Nghi từng theo lối Tây Trường Sơn để ra Quảng Bình, Hà Tĩnh.
    Vào năm 1858, khi người Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ và đầu hàng. Trước nguy cơ mất nước, Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết và quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường cùng phái chủ chiến của triều đình đã tiến hành xây dựng khẩn trương khu căn cứ Tân Sở tại vùng Cùa núi non hiểm trở (thuộc làng Mai Đàn, xã Cam Chính hiện nay).
    Căn cứ được bắt đầu xây dựng từ năm 1883 và được hoàn thành vào năm 1886. Thành được xây theo cấu trúc chữ nhật dài 548m, rộng 418m, với tổng diện tích là 22,9ha. Thành ngoại có 4 cửa tiền, hậu, tả, hữu, đắp bằng đất, phía ngoài có hàng rào cọc nhọn và hệ thống hào bao quanh. Xung quanh thành, mỗi phía trồng bốn hàng tre chen dày, đan kín. Bờ tre ngoài cùng cách bờ tre thứ hai 21m, bờ tre thứ hai cách bờ tre thứ ba 13m, bờ tre thứ ba cách bờ tre thứ tư 5m. Giữa các bờ tre là tường thành đắp bằng đất nện chặt. Ở bốn góc thành có bốn giếng nước sâu 20m.
    Bên trong thành ngoại có nhà cửa, trại lính, kho hậu cần, bãi tập trận của voi, ngựa. Tiếp đó là thành nội được xây vững chắc và ở giữa là nơi làm việc của vua quan. Sau sự kiện binh biến đêm 23/5/1885 tại kinh thành Huế, phái chủ chiến tiến hành đánh úp giặc Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng các quan đại thần của phái chủ chiến và đoàn tùy tùng phụ xa giá ra Tân Sở. Tại đây, ngày 13/7/1885, thay mặt vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đã ban hịch Cần Vương kêu gọi nhân dân phụng sự vua đánh giặc Pháp. Từ đó, Tân Sở trở thành trung tâm lãnh đạo kháng chiến của phong trào Cần Vương.
    Trong những ngày đóng tại Tân Sở, vua Hàm Nghi và quần thần binh lính cũng dựa vào người dân Tà Ôi, Vân Kiều để di chuyển lên hướng Tây. A Xóc, A Chuẩn, Tà Hác, động Voi Mẹp, Núi Trống, Khe Thác Trịch, động Tù Moái... là những nơi mà nhà vua từng đặt chân đến. Ngày trước, người Pháp từng gọi đèo Cùa là đèo Súng đại bác (Col des Canons) vì họ tìm thấy trên đèo có nhiều súng thần công của quân đội Hàm Nghi bỏ lại. Cũng trong thời gian này, vua Hàm Nghi từng được người dân (Kinh, Thượng) hết lòng che chở như ông Nguyễn Vạn ở xóm Cây Đa (Cam Chính), rồi xóm Động ở làng Bảng Sơn là những nơi đã đón rước nhà vua. Quảng Trị là vùng đất tự hào vì được cùng chung lưng đấu cật với phong trào Cần Vương và vua Hàm Nghi.
    Về mặt quân sự, binh pháp và cả dịch học thì việc xây dựng thành lũy Tân Sở và đặt đại bản doanh cho kinh đô kháng chiến trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử bấy giờ thật là lý tưởng. Theo L.M Delvanx (xem Le Camp de Tân Sở, tập san Đô thành hiếu cổ số 1, 1942) thì “Người chọn địa điểm có lẽ là Nguyễn Văn Tường (trong cuộc kinh đô quật khởi là Phụ chính đại thần), vì ông đã từng 5 năm liền phụ trách Nha Sơn phòng Cam Lộ, và biết rõ mọi nẻo ngách cùng này”. Thật ra, dưới thời Tự Đức, sau khi Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Văn Tường đã có những bản tấu về vị trí quan trọng của Tân Sở. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) từ Nha kinh lý ở Đông Mão, đã cho đổi thành Sơn phòng Nha quản hạt phủ Cam Lộ. Năm Quý Mùi (1884) đã chuẩn bị cho Tân Sở: Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô... Nối liền với chỗ đất cũ là ở trên địa phận xã Bảng Sơn... địa thế rộng rãi, có thể chứa được một khu kiến trúc lớn di về đây. Vua chuẩn y. Đến lúc ấy bèn chuẩn cho đắp thành, đào hào, xây cất nha sự, kho súng, nhà lính, các tòa kỳ đài, pháo đài... (Đại Nam thực lục chính biên, tập 36, NXB KHXH 1976). Điều này cho thấy Tân Sở là một cứ điểm quan trọng trong tính toán việc “hậu lộ” của triều đình nhà Nguyễn.
    Sau đêm 22.5 và sáng 23.5 AL, tức ngày 4 – 5.7.1885, ngày kinh đô quật khởi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết cùng đoàn tùy tùng theo đường La Chữ lên Văn Xá rồi xa giá ra Quảng Trị vào ngày 24.5 âm lịch. Vua đã qua đêm tại hành dinh Quảng Trị. Có giả thuyết cho rằng: Vào rạng sáng 25.5 âm lịch vua Hàm Nghi ra Dụ Cần Vương, rồi tiếp tục lên Tân Sở. Tuy nhiên theo Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Dụ Cần Vương được phát đi vào ngày 2.6 âm lịch tức ngày 23.7.1885 từ Tân Sở.

    Mặc dù chỉ lên ngôi vỏn vẹn hơn 11 tháng, nhưng Vua Hàm Nghi là linh hồn của cuộc kháng chiến. Căn cứ Tân Sở là nơi ghi dấu mốc son lịch sử của Vua Hàm Nghi và triều đình kháng chiến, ghi nhận sự vùng dậy cuối cùng của giai cấp phong kiến trong việc lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm. Di tích Tân Sở đã được Bộ VHTT xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 65/QĐ-VHTT ngày 16/1/1995.

    Sau khi Vua Hàm Nghi và lực lượng phái chủ chiến rút lui khỏi thành Tân Sở, thực dân Pháp tiến hành bao vây, đốt phá và hủy diệt căn cứ này. Đến khi thực dân Pháp rút lui, đế quốc Mỹ tiếp quản khu vực, đã san ủi vùng Cùa, trong đó có Tân Sở, biến nơi đây thành căn cứ quân sự của chúng. Đến nay, dấu tích thành Tân Sở chẳng còn để lại chút gì, chỉ còn lờ mờ vài bụi tre bảo vệ thành và bên cạnh đó là làng tái định cư Cồn Trung mới hình thành.

    Hiện nay, thành Tân sở chỉ còn lại trong trí nhớ của những cụ già và người dân ở xã Cam Chính. Một dấu tích thành xưa oai hùng với cả một “công trường kháng chiến” huy động hàng vạn dân phu, lính tráng nay đã bị bỏ rơi, quên lãng.
    Hiện tại, UBND huyện Cam Lộ đã quy hoạch 5 ha đất thuộc địa phận thành Tân Sở ngày xưa để chuẩn bị cho việc phục dựng, bảo vệ và tôn tạo di tích Tân Sở sau này. UBND huyện Cam Lộ đề nghị đưa di tích Tân Sở vào danh mục di tích thuộc tỉnh quản lý và đưa vào danh mục đầu tư theo chương trình mục tiêu cấp quốc gia giai đoạn 2 để thuận lợi cho việc tôn tạo, tránh tình trạng hoang phế di tích.




  5. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Sông Hiếu
    Sông Hiếu có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống, sản xuất và sinh hoạt của cư dân Cam Lộ. Phát nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua các hẻm đá, tầng cát, biền bãi, sông Hiếu vừa là nguồn cung cấp nước, điều hòa không khí, vun đắp phù sa, hình thành vựa lạc, vựa lúa nơi dòng sông đi ngang qua suốt chiều dài dãi đất Cam Lộ.
    Không những vậy, với địa thế đặc thù là vùng chuyển tiếp từ dãy Trường Sơn thấp dần ra vùng đồng bằng duyên hải, những phụ lưu của sông Hiếu đã góp phần tạo ra nhiều khe suối có cảnh trí thiên tạo rất hùng vĩ, độc đáo, có thể khảo sát, quy hoạch để xây dựng các điểm du lịch sinh thái lý tưởng. Một trong số đó là khe Gió.

    Khe Gió:

    Khe Gió có từ lâu đời, rất thân thuộc với bà con vùng Cùa và vùng Tân Lâm, Cam Lộ nhưng thực sự đi vào "tầm ngắm" của những nhà quy họach du lịch địa phương thì mới vào những năm gần đây.
    Từ ngã ba Quốc lộ 9 lối rẻ vào điểm cao 241, Tân Lâm, thuộc địa phận xã Cam Thành, được xác định là "Km0" của hành trình đến với khe Gió. Nhằm hướng tây trực chỉ, thoạt đầu du khách đi qua những triền đồi thoai thoải với những vườn chuối, vườn sắn xanh mướt. Gặp con suối cạn chắn ngang lộ trình, đó là nơi nguồn nước khe Gió chảy ra phía cầu Đầu Mầu trước khi hòa vào thượng nguồn sông Hiếu. Men theo thân suối với gập ghềnh đá tảng trơn nhẫy, xếp từng lớp im lìm dưới dòng nước róc rách, du khách có thể tận hưởng mùi hương của hoa dại, của lá rừng hoai mục, mùi nhựa cây hăng hắc giữa bốn bề màu xanh trùng điệp tán rừng đầu nguồn. Để còn tồn tại một thảm thực vật gần như hoang sơ được đến hôm nay là sự nỗ lực rất lớn của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. Trong thời điểm mà sức ép về phát triển lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và cuộc sống mưu sinh của người dân đang đặt ra rất cấp thiết, với vị trí không xa khu dân cư, đất đai tươi tốt, nếu không có sự quy hoạch sớm cùng với động viên nhân dân và triển khai các biện pháp quyết liệt khoanh nuôi, bảo vệ diện tích rừng đầu nguồn thì rất có thể hai bên khe Gió bây giờ, rừng cơ bản đã bị tàn phá xong.
    Tiếp tục hành trình, du khách bắt đầu được thử thách sức bền, sự khéo léo và lòng kiên nhẫn khi phải vượt qua lòng suối cạn với lô nhô đá tảng, lớp lớp cây bụi rủ xuống mặt nước lúc nông, lúc sâu, khi trong vắt, khi đục ngầu. Bù lại, du khách sẽ được ngắm nhìn thỏa thích những loài cây cổ thụ xòa bộ rể gân guốc bám vào bờ đá tảng với dáng vẻ thâm u và huyền sử, những loài bướm sặc sỡ đậu từng đám bên những triền đất phủ đầy lá cỏ màu xanh mướt và những loài cá vẫy vùng trong lòng suối trong vắt với dáng vẻ thư nhàn.
    Độ non một giờ đồng hồ, ngược ngàn khe Gió, du khách sẽ đến được nơi cần đến. Đó là nơi đầu nguồn của địa danh này với thác nước tuôn xối xả, tung bọt lưng trời. Ngày thường, khi ánh chiều đổ bóng, nơi đây hiện lên những chiếc cầu vồng bảy sắc rất ngoạn mục. Dòng nước bạc đổ từ độ cao dồn xuống lòng suối với âm thanh mạnh mẽ và quyến rủ. Từng tảng đá xếp kín vào nhau, có cung bậc, có tầng nấc, có chỗ để lên cao, có chỗ để xuống thấp, có chỗ trải ra mênh mông, có chỗ vừa vặn ba bốn người ngồi đàm đạo, tất cả như được sắp đặt từ bàn tay vén khéo của một họa sĩ tài hoa. Xung quanh, những loài cây rừng vạm vỡ đổ bóng xuống bờ suối, thân cây chắc nịch, song hàng như thể có ai đó đã trồng từ rất lâu để chờ đợi có ngày du khách chỉ cần một thao tác đơn giản là có thể mắc chiếc võng cá nhân để nghỉ ngơi sau một hành trình khá mệt mỏi.
    Khe Gió có nơi kín gió để có thể nhóm bếp nấu ăn mà không sợ lửa lan vào rừng, có nơi nước trong, sâu, kẹp giữa những bờ đá được chọn làm nơi ướp lạnh đồ uống rất hữu dụng, có nơi "tắm tiên", nước trong vắt, mát rượi tống thẳng xuống giữa bốn bề là đá, có nơi thoáng đãng, du khách có thể vắt mình trên tảng đá rộng, bằng phẳng, chân ngâm xuống nước, mắt nhìn trời và rừng xanh vời vợi. Chắc dân gian đã có lý khi đặt tên cho nơi này là khe Gió. Quả thực, giữa thâm u rừng núi, vậy mà gió vẫn hun hút, thổi bạt ngàn qua những cánh rừng, xao động cây lá, nhẹ nhõm lòng người.
    Mấy năm gần đây, lãnh đạo huyện Cam Lộ đã luôn trăn trở để có thể biến khe Gió thành điểm du lịch sinh thái, thu hút du khách gần xa đến tham quan, nghỉ dưỡng, mở ra một hướng mới trong việc khai thác thế mạnh sẵn có của địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội huyện nhà. Lợi thế của khe Gió là rất gần Quốc lộ 9, cách trung tâm thị xã Đông Hà chừng 20 km, cách trung tâm huyện lỵ Cam Lộ non 10 km, trước mắt chỉ cần mở đường vào tận điểm tham quan bằng cách sắp xếp lại các nền đá, phát quang một ít cây rừng, bố trí điểm nghỉ chân hợp lý và các dịch vụ kèm theo như nơi giữ phương tiện đi lại, bán đồ uống và thức ăn nhanh, đảm bảo an toàn cho du khách...là đã có thể bước đầu đưa khe Gió vào khai thác được. Vẫn biết rằng từ khi khởi động dự án cho đến khi trở thành hiện thực cần một quỹ thời gian chắc chắn là dài đòi hỏi nỗ lực lớn từ cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và nhân dân sở tại, nhưng huyện Cam Lộ đã có những bước đi ban đầu khá tự tin. Đó là tổ chức nhiều đoàn với những thành phần chức năng tiến hành nhận diện, khảo sát và xúc tiến thu thập các thông tin cần thiết để phục vụ cho công tác quy hoạch. Tiến đến lập dự án, kêu gọi đầu tư, đưa vào khai thác.
    Theo chúng tôi, có thể khai thác khe Gió với tư cách là địa điểm du lịch sinh thái đặt trong mối liên hệ với các di tích văn hóa, lịch sử, cách mạng trong vùng. Điều thuận lợi là trong bán kính không xa, trên trục giao thông thông suốt, Cam Lộ có sự hiện diện của hang Dơi-Đầu Mầu, nơi đã tìm thấy nhiều hiện vật đồ đá làm bằng công cụ chặt, được ghè đẽo thô sơ ở rià cạnh và một đầu để sử dụng cùng với vỏ ốc núi, ốc suối, nơi các nhà sử học xác định là được người nguyên thủy cư trú lâu dài. Không xa là di tích Tân Sở trong những ngày đầu kháng Pháp, điểm cao 241- Tân Lâm trong kháng chiến chống Mỹ. Nếu được đầu tư phục dựng, tôn tạo đúng với tầm vóc của từng di tích, từng điểm thắng cảnh và hình thành được một lộ trình khép kín để cho du khách vừa tham quan, khám phá, vừa tìm hiểu lịch sử văn hóa địa phương thì chắc chắn trong tương lai không xa, Cam Lộ sẽ có thêm điều kiện để phát triển về du lịch, một lĩnh vực mà địa phương không phải là không có lợi thế.
    zom thích bài này.
  6. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Chợ Phiên Cam Lộ:

    Trước đây, chợ phiên Cam Lộ được xem là một trung tâm thương nghiệp lớn có tiếng ở nông thôn Việt Nam, được sử sách ghi lại năm 1621. Theo hồi ức của một số bô lão ở làng Cam Lộ, chợ đã được dời qua nhiều địa điểm khác nhau: trước thế kỷ XIX, chợ phiên nhóm họp ở Tân Tường (km 15 của Đường 9), về sau chuyển về Bến Đuồi, bên bờ sông Hiếu. Từ khi được chuyển về Bến Đuồi, chợ được mở mang, xưng danh là tiểu Trường An. Một dải chợ tấp nập kéo dài từ Bến Đuồi đến đình Cam Lộ, là nơi quy tụ hàng hóa, đặc sản từ mười phương gửi tới chào mời, trao đổi. Hàng từ Huế ra theo đường biển, ngược sông Hiếu lên chợ phiên Cam Lộ thường mang theo nón bài thơ, đường phèn, đường phổi, thuốc bắc, gia vị... Hàng từ Quảng Bình vào có trứng vịt, nồi đất, hàng đan lát, mây, trầm hương, trâu bò, gà heo... Còn người Lào, để kịp phiên chợ thì hàng hóa được gởi về trước 2 ngày. Năm 1776, nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng đến đây và ghi lại. Lúc này chợ phiên Cam Lộ phát triển, thuyền buôn của Nhật, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha...vào Cửa Việt lên đây, về đây giao thương.
    Đến năm 1930, chợ phiên Cam Lộ không đơn thuần là nơi giao thương, buôn bán mà còn là địa điểm hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Tại đây, đồng chí Lê Duẩn cùng với các đồng chí Hồ Xuân Lưu, Hoàng Hữu Chấp... hội bàn lập chi bộ để lãnh đạo phong trào ở chợ phiên, đã chọn tiệm thuốc bắc và rượu Xi - Ca ở phố Đông Nguyên làm nơi đặt cơ quan tài chính của Đảng. Tháng 8-1945, chợ phiên là nơi diễn ra cuộc đàm thoại giữa đại diện đặc trách của ta và Nhật, yêu cầu Nhật giữ thái độ trung lập khi ta tiến hành khởi nghĩa chống Pháp. Lúc này, chợ phiên Cam Lộ đã chuyển từ chợ thời bình sang chợ lưu động thời chiến. Năm 1946, Pháp chiếm Đường 9 và cho quân chiếm đóng, chợ phiên phải dời tới An Thái, xã Cam Tuyền. Những năm 1948 – 1950, chợ phiên được gọi là chợ Kháng chiến, đóng ở những nơi gần chùa, miếu có nhiều cây cối rậm rạp. Sau năm 1954, địch buộc người dân dời chợ đi nơi khác để chúng dễ kiểm soát, nhưng người dân Cam Lộ nhất quyết không dời, duy trì chợ cho đến ngày nay.
    Vào ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 Âm lịch, chợ phiên Cam Lộ tràn đầy hàng hóa với đủ loại nông sản, lâm sản, hải sản, đồ gia dụng với muôn hương, ngàn sắc từ khắp các vùng trong, ngoài nước đưa về.
    Đó là đường đen, đường phèn, đường cát, gạo nếp trái cây, vàng mã từ Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế đưa ra; đậu đen, đậu xanh, đậu ván, đậu phụng, cau trầu từ Gio Linh, Vĩnh Linh - Quảng Trị và đồ sắt, đồ đồng, đồ bạc từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đưa vào; mây song, lá nón, mật ong, trầm hương, heo, gà từ miền thượng du phía tây chở xuống; tôm, cá, muối, mắm từ miền duyên hải Quảng Trị đưa lên; trâu bò từ Ai Lao và vải vóc, nhung lụa từ HongKong, Ma Cao đưa sang. Chợ phiên Cam Lộ thời ấy sầm uất, trên bến dưới thuyền đông vui lắm. Đúng như mô tả của Lê Quí Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cuối thế kỷ 18.
    Chợ phiên Cam Lộ thời nay trông tiều tụy như cái chợ chiều. Được biết, trong qui hoạch mạng lưới thương mại dịch vụ trọng điểm, tỉnh Quảng Trị không đề cập đến chợ phiên Cam Lộ. Trong qui hoạch mạng lưới vệ tinh của Trung tâm Thương mại Quốc tế Lao Bảo do các Bộ, ngành đề xuất cũng chỉ nói tới thị xã Đông Hà, thị trấn Hải Lăng và khu dịch vụ ngã tư Sòng, không nói tới chợ phiên Cam Lộ. Tỉnh và huyện không có kế hoạch đầu tư phát triển chợ thêm mà chỉ cho tiến hành trùng tu sửa sang lại. Lợi thế về đường thủy và ảnh hưởng giao thương của chợ phiên Cam Lộ bây giờ không còn như trước vì đã có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua huyện, trục đường quốc lộ 9 lên Lao Bảo sang Lào và Thái Lan cũng đã được cho đại tu mở rộng.
    Khi đề ra chủ trương mở hành lang kinh tế Đông – Tây, chính phủ 3 quốc gia đã tạo điều kiện tiên quyết để các tỉnh ở hai bên trục đường quốc lộ số 9 thuộc miền Trung Việt Nam, các tỉnh phía Nam Lào, các tỉnh Đông Bắc Thái Lan có cơ hội tập trung nguồn lực khai thác tiềm năng đất đai, phát huy thế mạnh ngành nghề, xúc tiến phát triển sản xuất các sản phẩm hàng hóa địa phương; để giao thương hỗ trợ và bù đắp cho nhau những phần còn thiếu; từng bước cải thiện đời sống nhân dân, làm giàu cho mảnh đất quê hương. Tuy nhiên, nếu cho rằng “thương hiệu Chợ phiên Cam Lộ” không còn giá trị làm điểm tựa phát triển nền kinh tế của vùng này, thì có “thương hiệu” nào tốt hơn?
    Đất đai huyện Cam Lộ và các huyện kế cận như Hướng Hóa, Gio Linh, Vĩnh Linh rất thích hợp trồng đại trà các loại cây công nghiệp đặc sản mà nhiều quốc gia trong khu vực không có, rất thèm muốn như: cao su, hồ tiêu, ca cao, cà phê, trà, cau, trầm hương, đậu nành, đậu phụng, nếp hương dành cho người Trung Hoa (Trung Quốc, lục địa HongKong, Ma Cao, Đài Loan, Singapore); cá khô, tôm khô, mực khô, muối, mắm vùng biển Quảng Trị dành cho các tỉnh phía Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan v.v... Vậy nếu chọn một chỗ làm chợ đầu mối giao dịch quốc tế mua bán các loại sản phẩm đắc địa nêu trên tại địa bàn tỉnh Quảng Trị, thì có chỗ nào tốt hơn Chợ phiên Cam Lộ? Vì Chợ phiên Cam Lộ có vị thế giao thương thuận lợi hơn cả. Ví dụ vận chuyển đồ hải sản từ cửa Việt lên chợ phiên bán sang Lào, Thái Lan, có phương tiện nào tốt hơn tàu, thuyền đi dọc sông Hiếu, vừa tiện lợi, lại vừa rẻ; hoặc vận chuyển hàng nông, lâm sản về chợ phiên bán sang Đài Loan, Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á thì có các trục đường quốc lộ số 9, số 1, trục đường Hồ Chí Minh. Nếu chợ phiên Cam Lộ được chọn làm chợ đầu mối hàng nông, lâm, hải sản trong giao lưu kinh tế Đông – Tây có thể sẽ kích thích mạnh tâm lý các thương gia nước ngoài và Việt kiều trong khu vực đến giao dịch, mua bán, tham quan, từ đó sẽ kích thích ngành dịch vụ thị trấn Cam Lộ phát triển.
    Vấn đề đặt ra, để chợ phiên Cam Lộ hội đủ điệu kiện trở thành chợ đầu mối giao lưu, buôn bán quốc tế tại Việt Nam, thì quy mô chợ phải được tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế, về văn hoá, xã hội. Chợ cần được quy hoạch lại, đảm bảo có đầy đủ các khu vực giao thương dành cho người địa phương và các tư thương nước ngoài. Về tổ chức không gian, khu vực chợ có thể nằm cả 2 bên bờ sông Hiếu, tạo thêm tuyến du lịch đường sông từ chợ ra biển cửa Việt, tựa như tuyến du lịch sông Hương từ TP Huế ra cửa biển Thuận An. Khi ấy, thị trấn Cam Lộ không chỉ là thủ phủ của huyện Cam Lộ; mà còn là thủ phủ kinh tế, văn hóa, du lịch của cả vùng. Ngoài các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và huyện Cam Lộ, tại khu vực chợ có thể xây dựng một nhà bảo tàng lịch sử về các phong trào yêu nước, trưng bày đầy đủ các hiện vật, tư liệu hình ảnh về các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử, các nhân vật lịch sử từng in dấu tại địa bàn huyện Cam lộ từ thời Cần Vương đến cách mạng tháng 8 năm 1945, như vua Hàm Nghi và các đại thần chống Pháp của phong trào Cần Vương giữa thế kỷ 19; như Nguyễn Khóa Bảo và các chiến hữu của cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916; như các Sứ ủy trung kỳ Đảng Cộng Sản Đông Dương về chỉ đạo phong trào cách mạng tỉnh Quảng Trị thường xuyên họp kín tại đình làng Cam Lộ, các lớp cán bộ ưu tú của Đảng hoạt động tại huyện Cam Lộ qua các thời kỳ.
    Việc phục hồi chợ phiên Cam lộ và chọn nó làm chợ đầu mối buôn bán hàng nông, lâm, hải sản quốc tế tại Việt Nam của hành lang kinh tế Đông – Tây, không chỉ nhằm thực thi cam kết quốc tế của chính phủ Việt Nam mà còn phát huy thế mạnh đất đai, nguồn lợi thủy hải sản phong phú để phát triển nền kinh tế miền Trung.
    Đứng trên đường Hồ Chí Minh nhìn xuống, chợ phiên trong mắt chúng tôi là những ngôi lều nhỏ, được lợp bởi những tấm tôn cũ kỹ, bạc màu theo thời gian trông không có gì thu hút lắm. Thế mà, vào trong chợ chúng tôi mới thật sự bất ngờ bởi sự tấp nập của người bán, người mua và đặc biệt hơn, các mặt hàng ở đây rất phong phú: từ vàng, bạc đến mắm, muối, dưa, cà.... tất cả được trưng bày rất đẹp. Hàng Cau, hàng Trầu, hàng Nếp cho đến hàng Khoai... mỗi hàng có một góc riêng. Vẫn là góc chợ xưa, vẫn còn nón Huế đưa ra, trứng vịt Quảng Bình đưa vào, nhưng khác một điều là không có voi để đổi bạc trắng, đổi súng và không còn những phiên chợ có đến 300 con trâu… như nhà bác học Lê Quý Đôn từng chứng kiến. Nhưng cứ đến hẹn là chợ phiên Cam Lộ lại nhộn nhịp, tấp nập người bán người mua.
    Chợ phiên như đã ăn sâu vào máu thịt người Cam Lộ và người dân Quảng Trị. Với người dân Cam Lộ, nhắc tới chợ phiên ai ai cũng tự hào, họ xem đây là một nét văn hóa lâu đời của cha ông, đã đi vào sử sách. Bây giờ, Cam Lộ có thêm chợ Cam Lộ được xây dựng to và đẹp, có đủ mặt hàng nhưng lượng khách vẫn không đông hơn chợ phiên. Nếu như người dân Bắc tự hào bởi câu ca “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa” hoặc “Thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến”, thì người dân Cam Lộ cũng có lời nhắn nhủ thiết tha với mọi người “Muốn mua vui, đến chợ Phiên Cam Lộ”!.
    zom thích bài này.
  7. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Trên đây là những thông tin mà tớ sưu tầm và edit lại từ trên net, độ chính xác thì cũng chưa rỏ lắm. Các bạn có thêm thông tin gì có thể bổ sung cho mình với để sớm hoàn thành một số liên kết cho Cam lộ nhé.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Cam_Lộ
    loveslow and ikondoit like this.
  8. ikondoit

    ikondoit Thành viên chăm ngoan

    Đang đọc lại phần CUA thêm phía dưới. Nên đọc và ghi lại theo kiểu văn bản khoa học và tham khảo những thông tin đã có sẵn từ trước
  9. ikondoit

    ikondoit Thành viên chăm ngoan

    Đã sửa lại trang về Cam Lộ. Nội dung CUA cập nhật phía dưới hầu hết được lấy về từ một nguồn nào đó giống như thông tin tuyên truyền, và bị lặp với thông tin ở trên (sát nhập thành huyện Bến Hải, Các xã thị trấn...) nên mình đã xóa mấy phần trùng đó cũng như lược bỏ khá nhiều đoạn của CUA. Các bạn khi cập nhật nhớ tuân thủ theo nguyên tắc trung lập, khách quan, giống như mình là người thứ 3 đang miêu tả thôi nhé. ko có ta và địch, ko có kẻ thù hoặc đồng chí trong các tài liệu của Wiki.

    Đã cập nhật thêm trang Chợ phiên Cam Lộ từ tài liệu của Cua
    Lãng Tử thích bài này.
  10. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    CAM LỘ: TIỀM NĂNG, CƠ HỘI ĐẦU TƯ
    [​IMG] (Trụ sở UBND huyện Cam Lộ)
    * VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
    - Cam Lộ là huyện thuộc tỉnh Quảng Trị, phía Bắc giáp huyện Gio Linh, phía Tây và Nam giáp huyện ĐaKrong và Triệu Phong, phía Đông giáp huyện Gio Linh và thị xã Đông Hà. Diện tích tự nhiên 346,89 km2, bao gồm 1 thị trấn và 08 xã.
    - Nằm trên trục giao thông quan trọng có các quốc lộ đi qua là 1A, đường Hồ Chí Minh và đặc biệt là Quốc lộ 9 - tuyến đường Xuyên Á nằm trong trục hành lang kinh tế Đông - Tây, từ cửa khẩu Lao Bảo đến cảng Cửa Việt.
    - Cam Lộ là một trong những địa phương có vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh Quảng Trị.
    * TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN:
    [​IMG] Khai thác tài nguyên
    - Đá vôi xi măng ở 02 mỏ: Cam Nghĩa với trữ lượng cấp C1, C2 trên 400 triệu tấn, Cam Thành với trữ lượng dự báo cấp P gần 80 triệu tấn.
    - Sét xi măng, Puzơlan phụ gia xi măng ở Cam Nghĩa, Cam Chính, Cam Thành được đánh giá có quy mô khá lớn.
    - Quặng sắt ở Cam Thành (trữ lượng cấp P2 trên 1 triệu tấn), Cam Hiếu, Cam Nghĩa.
    - Ngoài ra, trên địa bàn còn một số điểm, mỏ khoáng sản đáng chú ý là Đolomit ở Cam Tuyền; Cát, cuội sỏi xây dựng ở Cam Thành, Thị trấn; Nước khoáng nóng Tân Lâm (Cam Thành) thuộc nhóm nước khoáng cacbonic, nhiệt độ 450C; Sét gạch ngói ở Cam Hiếu, Cam Thanh...
    * ĐẤT ĐAI VÀ LAO ĐỘNG:
    - Tổng diện tích đất nông nghiệp: 21.785 ha, chiếm 62,8% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó đất lâm nghiệp là 15.597 ha, bằng 71,6% đất nông nghiệp. Phần lớn diện tích được bố trí trồng các loại cây chủ lực là cao su, hồ tiêu, lạc, cây lấy gỗ (keo, bạch đàn, thông...).
    - Quỹ đất dành cho phát triển Công nghiệp – Thương mại - Dịch vụ (bao gồm diện tích đất phát triển cụm CN-TTCN-TMDV) trên địa bàn huyện đến năm 2010 khoảng 210ha.
    - Nguồn lao động khá dồi dào, hiện có 25.292 người trong độ tuổi lao động, chiếm 53,3% dân số. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 21.852 người, trong đó: Ngành Nông – Lâm - Thủy sản: 13.900 người, chiếm 63,6%; Ngành Công nghiệp - Xây dựng: 2.702 người, chiếm 12,4%; Ngành Thương mại - Dịch vụ: 5.250 người, chiếm 24%.
    * MỘT SỐ CỤM, ĐIỂM CÔNG NGHIỆP - THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN:
    [​IMG] Sơ đồ quy hoạch Cụm Làng nghề Tân Định

    1. Cụm Công nghiệp - Dịch vụ Tân TrangCụm Làng nghề - Dịch vụ Tân Định: Có tổng diện tích: 25ha. Địa chỉ: Km 15 - Quốc lộ 9 - xã Cam Thành - huyện Cam Lộ.
    2. Cụm Công nghiệp - Thương mại - Dịch vụ Cam Tuyền. Tổng diện tích: 50ha. Địa chỉ: Đường Hồ Chí Minh, đoạn qua xã Cam Tuyền - huyện Cam Lộ.
    3. Cụm Công nghiệp - Dịch vụ Cam Hiếu. Tổng diện tích: 70ha. Địa chỉ: Quốc lộ 9D, đoạn qua xã Cam Hiếu - huyện Cam Lộ.
    4. Cụm Thương mại - Dịch vụ Ngã Tư Sòng. Tổng diện tích: 20ha. Địa chỉ: Ngã Tư Sòng - Quốc lộ 1A, đoạn qua xã Cam An và Cam Thanh - huyện Cam Lộ.
    * MỘT SỐ LĨNH VỰC, NGÀNH NGHỀ CHỦ YẾU KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ VÀO ĐỊA BÀN HUYỆN:
    [​IMG] Khu du lịch sinh thái Khe Gió
    - Khai thác và chế biến khoáng sản: Thăm dò và khai thác các mỏ khoáng sản trên địa bàn; Nâng công suất các cơ sở khai thác đá lên 700-800 ngàn m3/năm...
    - Sản xuất vật liệu xây dựng: Nâng công suất Nhà máy xi măng hiện có; Đầu tư thêm dây chuyền sản xuất gạch tuynen, gạch block, bêtông đúc sẵn, nhà máy phụ gia xi măng, sản xuất bao bì xi măng...
    - Chế biến nông sản, thực phẩm: Chế biến mủ cao su, hồ tiêu, sản xuất tinh dầu lạc, thức ăn gia súc...
    - Sản xuất chế biến gỗ: Đồ gỗ dân dụng và mộc mỹ nghệ cao cấp; xây dựng nhà máy sản xuất ván ghép thanh...
    - Sản xuất sản phẩm kim loại và dịch vụ sửa chữa: Hình thành các trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa ôtô, xe máy, đồ gia dụng, điện tử...; Đầu tư một số nhà máy cán tôn, sản xuất khung thép tiền chế với công suất 500-700 tấn/năm.
    - Đầu tư phát triển thương mại - dịch vụ ở trung tâm huyện lỵ, Cụm Thương mại - Dịch vụ Ngã Tư Sòng và đầu tư, khai thác các điểm tham quan, vui chơi giải trí như: Khu du lịch sinh thái Khe Gió, suối nước nóng Tân Lâm, căn cứ Tân Sở, cao điểm 241 ...
  11. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Vùng Cùa

    Vùng Cùa là miền đất đỏ bazan thuộc huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị gồm hai xã là Cam Chính và Cam Nghĩa. Cách trung tâm thi trấn Cam Lộ khoảng 9km. Cùa là vùng đất lịch sử có căn cứ Tân Sở của thời vua Hàm Nghi và tượng đài 241.


    Dân số: 10033 người (2267 hộ) trong đó nữ 5189 và số người trong độ tuổi lao động khoảng 5302 người. Nguồn niên giám thống kê Quảng Trị 2006: http://niengiamthongke.quangtri.gov.vn

    Đường vào Cùa:

    Từ đường 9 qua thị trấn Cam Lộ vào đến Cùa khoảng 7km qua một con đèo quanh co dài hơn 5 km đã được rãi nhựa. Thường gọi là đèo Cùa nhưng ngày xưa nó có tên là đèo Vắt.


    Hệ thống giao thông cơ sở hạ tầng:

    Từ chợ Cùa về các thôn theo trục liên xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa. Đường liên thôn hầu hết đã được bê tông hóa. Từ 1997 điện lưới đã về đến vùng Cùa Chương trình điện- đường- trường-trạm, cơ bản đã được thực hiện ở Cùa. Các trường tiểu học, trung học phổ thông mang tên Lê Thế Hiếu đã được xây dựng cơ bản, khá khang trang và bề thế. Chợ Cùa đã được tân trang lại, là nơi giao thương buôn bán trao đỗi hàng hóa của người dân trong vùng với các vùng khác.

    Kinh tế: Chủ yếu tập trung vào nông nghiệp trong đó thế mạnh về các loài cây công nghiệp lâu năm như: Tiêu, cao su với sản lượng khá lớn. Hiện nay mô hình kinh tế trang trại vùng đồi kết hợp chăn nuôi và trồng rừng dang phát triển mạnh.

    Tản mạn về xứ Cùa:
    Anh lên một chuyến chợ Cùa
    Anh mua trái mít, em bù trái thơm
    Đất Cùa nổi tiếng mít ngọt, thơm ngon, tiêu cay tê lưỡi là nơi "đất lành chim đậu", tình yêu nẩy mầm, đơm hoa kết trái tươi thắm như lòng đất bao dung. Cùa là xứ sở của núi non hữu tình, in đậm những dấu tích lịch sử đáng trân trọng và con người ngay thật, cởi mở. Con gái Cùa nổi tiếng về dáng vóc đẹp, lam làm, khéo tay và chiều chồng. Đến chợ Cùa vào những dịp tết, không hiếm dịp khách phương xa phải ngẩn ngơ bởi cái dáng thắt đáy lưng ong và những khuôn mặt trái xoan hiền thục của những cô gái vùng bán sơn địa ở chốn này. Một vùng thung lũng đất màu mỡ đỏ au là hậu duệ của những dòng nham thạch thời hồng hoang thăm thẳm. Xóm mạc quây quần. Tiêu, chè, chuối, sắn tươi tốt. Người ở giữa cây xanh, cây lên lộc kết trái bên người, cuộc sống an nhiên và hòa thái, nhiều yên tĩnh, ít ham hố tham lam. Ruộng lúa chân đồi. Bàu ao ven xóm. Hạt tiêu xứ Cùa có vị cay không gắt và thơm. Sớm sương, người đi chợ nói cười râm ran. Cuối chiều, tiếng mõ trâu lóc cóc kiệt xóm. Cưới xin, giỗ chạp cũng là dịp dựng rạp mời làng, tuy tốn kém một chút nhưng được cái đoàn tụ hàn huyên rộn ràng.



    Tớ edit lại như vậy thôi, nếu được thì đưa lên giúp tớ nhé. Thanks
    ikondoit thích bài này.
  12. Adv

    Adv Thành Viên Danh Dự

    Cam Nghĩa.

    Là một xã miền núi nằm ở phía tây huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị. Phía đông giáp xã Cam Chính, phía tây và nam giáp huyện Dakrong, phía bắc giáp xã Cam Thành.

    Dân số: 5792 người (2977 nữ) gồm 1254 hộ
    Hành chính: UBND xã nằm ở thôn Nghĩa Phong, số điện thoại văn phòng: 0533872203
    Chủ tịch HDND: Ông Đinh Văn Quyết
    Chủ tịch UBND: Ông Lê Văn Vĩnh
    Bí thư Đảng ủy: Ông Nguyễn Văn Ân
    Dien tich: 5549 ha
    Di tích lịch sử - văn hoá: Tượng đài 241
    Các làng: Nghĩa Phong, Cu Hoan, Định Sơn, Phương An, Bảng Sơn, Cam Lộ Phương, Thượng Nghĩa, Hoàn Cát, Quật Xá


    Thêm mấy cái ni cho xã Cam Nghĩa của tớ.. hớ hớ. Thông tin chính xác tớ mới gọi điện về hỏi hôm qua.
  13. ikondoit

    ikondoit Thành viên chăm ngoan

    Đã cập nhật Vùng Cùa lên WK. Còn xã Cam Nghĩa mình sẽ cập nhật lên sau. Nếu có thêm thông tin thì bổ sung cho phong phú nhé. :)
    Lãng Tử thích bài này.

Chia sẻ trang này